25 thg 3, 2016

Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất - Học kì Hôn nhân và gia đình 8 điểm

Trường đại học Luật Hà Nội Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam đoạt tài sản chung trong phạm vi được ủy quyền. Việc ủy quyền phải được lậ thành văn bản có chữ ký của cả vợ và chồng (khoản 3 Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 1 Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình 2000). Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung là nhằm bảo vệ khối tài sản chung, tránh những trường hợp một trong hai vợ chồng có hành vi phá tán tài sản chung, hủy hoại tài sản chung hoặc tự mình thực hiện những giao dịch dân sự làm tổn thất khối tài sản chung, ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình và người kia. Đồng thời quy định này còn khẳng định quyền bình đẳng về mọi mặt của vợ chồng trong quan hệ gia đình. Như vậy, Luật hôn nhân và gia đình đã xác định thời điểm hình thành và nguồn gốc phát sinh tài sản chung của vợ chồng. Kể từ sau khi kết hôn, những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp của vợ, chồng, tài sản mà vợ chồng mua sắm được từ những thu nhập hợp pháp đều thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng mà không phụ thuộc vào sức đóng góp của vợ, chồng nhiều hay ít, có lao động trực tiếp hay không. Đồng thời, pháp luật còn quy định các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối khối với tài sản chung và mục đích của việc sử dụng tài sản chung là nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình và lao động tạo ra tài sản vì lợi ích chung của gia đình. 3 – Vợ chồng bình đẳng trong việc phân chia tài sản chung hợp nhất: Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chung của vợ chồng có thể được phân chia trong 3 trường hợp: Chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại (điều 29); chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn (điều 95, 96, 97, 98); chia tài sản chung khi một bên vợ hoặc chồng chết. Các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng theo tinh thần luật này đều thể hiện sự bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất, tài sản được chia theo nguyên tắc “chia đôi”. Điều đặc biệt trong quy định về chia tài sản chung giữa vợ và chồng ở Luật Nguyễn Hà Vân – 340416 11 Lớp N01 – Nhóm 2 Trường đại học Luật Hà Nội Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 là đã dành riêng những quy phạm đặc thù để bảo vệ quyền cho người phụ nữ, chẳng hạn như việc đưa ra nguyên tắc về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người vợ khi chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng ly hôn (điều 95). Theo đó người phụ nữ được dành phần ưu tiên trong việc giải quyết vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng. Khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định: “Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây: a. Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên. Tình trạng tài sản. Lao động của vợ chồng được coi như lao động có thu nhập; b. Bảo vệ quyền lợi của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.” Bảo vệ quyền lợi của người vợ đã trở thành nguyên tắc khi việc giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng ly hôn. Thực tiễn, khi áp dụng quy định này vào việc chia tào sản chung của vợ chồng thường dành cho người phụ nữ những lợi thế nhất định và tùy từng trường hợp cụ thể mà việc ưu tiên đối với người phụ nữ được vận dụng một cách linh hoạt. Chẳng hạn khi ly hôn cả hai vợ chồng đều có nhu cầu về nhà ở song ngôi nhà là tài sản chung của họ lại không thể chia cho hai bên cùng sử dụng. Vì thế, áp dụng nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người vợ ở trương hợp này, có thể giải quyết theo hướng cho người vợ được sử dụng ngôi nhà và thanh toán cho phía chồng phần trị giá tài sản mà anh ta được hưởng theo quy định của pháp luật. C – PHẦN KẾT LUẬN: Nguyễn Hà Vân – 340416 12 Lớp N01 – Nhóm 2 Trường đại học Luật Hà Nội Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Việc quy định về sự bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam phần nào chung tay xây dựng bình đẳng giới – một vấn đề đang rất bức xúc ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay. Hy vọng từ những quy định của pháp luật, cơ quan chức năng và toàn xã hội có cách nhìn đúng đắn về bình đẳng giới và áp dụng linh hoạt trên thực tế để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ một cách triệt để. MỤC LỤC: Nguyễn Hà Vân – 340416 13 Lớp N01 – Nhóm 2 Trường đại học Luật Hà Nội Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam STT NỘI DUNG A - Phần mở đầu B - Phần nội dung I - Sự phát triển của pháp luật Việt Nam về quyền bình đẳng của TRANG 1 1 1 II 12- vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất Một số vấn đề về tài sản chung của vợ chồng Tài sản chung của vợ chồng Một số bất cập trong quy định của pháp luật về tài sản chung 3 3 5 III 12- của vợ chồng Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất Vợ chồng bình đẳng trong việc tạo lập tài sản Vợ chồng bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản 7 8 9 3- chung hợp nhất Vợ chồng bình đẳng trong việc phân chia tài sản chung hợp 11 C- nhất Phần kết luận 13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1 – Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008; 2 – Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000; Nguyễn Hà Vân – 340416 14 Lớp N01 – Nhóm 2 Trường đại học Luật Hà Nội Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 3 – Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005; 4 – Luật Hiến pháp Việt Nam năm 1992; 5 – Nguyễn Văn Cừ, “Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 5/2003; 6 – Nguyễn Thị Mừng, Bảo vệ quyền lợi người phụ nữ trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2003. Nguyễn Hà Vân – 340416 15 Lớp N01 – Nhóm 2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét